1. Đặt vấn đề
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam được sống độc lập, tự do [1]. Tám mươi mốt năm sau, khát vọng ấy được tiếp nối bằng mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hùng cường; như Người từng khẳng định trong Lời kêu gọi ngày 17/7/1966: “Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” [2]. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, diễn ra từ ngày 19 đến 23/1/2026 tại Hà Nội, tiếp tục xác định mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao [3]. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 đặt các mốc đổi mới mô hình phát triển đến năm 2030, 2035, 2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130, khi Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại và giàu bản sắc [4].
Mục tiêu, tầm nhìn định hướng trên, trong đời sống xã hội đã có không ít những ý kiến hoài nghi, cho rằng khát vọng hùng cường là một mệnh đề chính trị vĩ mô, xa rời mối quan tâm thường nhật của một sinh viên, một đoàn viên, một người trẻ mới lập nghiệp. Cách nhìn nhận ấy, nếu không được nhận diện và luận giải thấu đáo, có thể khiến một bộ phận thanh niên đứng ngoài dòng chảy phát triển của dân tộc, dẫn tới sự thờ ơ, thụ động đúng vào giai đoạn đất nước cần nhất sự dấn thân của lớp người trẻ. Bài viết này, tập trung giải quyết mối liên hệ tư tưởng giữa khát vọng độc lập và khát vọng hùng cường; phản biện quan điểm hoài nghi về tính thiết thực của khát vọng hùng cường, xác định những rủi ro, cơ hội khi thanh niên hành động kịp thời; xác định trách nhiệm và giải pháp hành động cụ thể.
2. Khơi nguồn tư tưởng từ khát vọng độc lập dân tộc đến khát vọng hùng cường
2.1. Khát vọng độc lập dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Khát vọng độc lập dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khát vọng ấy được Người đúc kết trong câu nói nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” [2], đây không chỉ là lời hiệu triệu trong những năm tháng kháng chiến, mà là sự kết tinh kinh nghiệm thực tiễn đau thương và anh dũng của dân tộc Việt Nam, là nguyên tắc nền tảng cho mọi đường lối phát triển đất nước sau này. Điều đáng quan tâm là ngay từ rất sớm, Người đã gắn khát vọng độc lập với khát vọng phát triển: Độc lập dân tộc không chỉ là thoát khỏi ách đô hộ, mà còn là điều kiện để người dân được sống hạnh phúc, tự do, có cơm ăn, áo mặc, được học hành.
Trong Di chúc, Người mong muốn “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”, đồng thời Người căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân” [5]. Như vậy, ngay trong tư tưởng của Người, độc lập dân tộc và khát vọng phát triển đất nước hùng cường có mối liên hệ mật thiết, không tách rời nhau.
2.2. Khát vọng hùng cường tiếp nối và phát triển trong giai đoạn mới
Bước sang thời kỳ đổi mới và hội nhập, khát vọng hùng cường từ khát vọng độc lập tiếp tục được cụ thể hóa qua các kỳ Đại hội Đảng, cụ thể:
Đại hội XIII (2021) xác định mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao [6].
Đại hội XIV (2026) kế thừa và làm sâu sắc định hướng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, nhấn mạnh tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin và phát triển nhanh, bền vững [3].
Điểm cốt lõi từ mục tiêu, tầm nhìn này cần nhấn mạnh rằng: khát vọng hùng cường không phải là một mục tiêu được kiến tạo mới mẻ, tách rời quá khứ, mà chính là sự vận động tiếp nối của khát vọng độc lập dân tộc trong một bối cảnh lịch sử đã đổi thay căn bản. Khi nền độc lập chính trị đã được xác lập vững chắc, trọng tâm của khát vọng dân tộc tất yếu chuyển dịch sang một nhiệm vụ mới: giành lấy vị thế xứng đáng cho đất nước trên các phương diện kinh tế, khoa học và công nghệ và văn hóa trong sân chơi quốc tế.
3. Nhận thức và hành động của tuổi trẻ Việt Nam về khát vọng hùng cường hiện nay
3.1. Tình hình nhận thức và hành động của tuổi trẻ Việt Nam hiện nay
Về mặt tích cực:
Những năm gần đây, một bộ phận đông đảo sinh viên, đoàn viên, thanh niên đã thể hiện rõ tinh thần chủ động, sáng tạo, gắn khát vọng cá nhân với khát vọng chung của đất nước. Nhiều phong trào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thu hút ngày càng nhiều người trẻ tham gia, với không ít sản phẩm công nghệ, mô hình kinh doanh do chính thanh niên sáng lập được ghi nhận trong nước và khu vực.
Các phong trào tình nguyện, chuyển đổi số cộng đồng, hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ công trực tuyến do tổ chức Đoàn, Hội phát động cũng cho thấy khả năng huy động nguồn lực trẻ vào những nhiệm vụ phát triển cụ thể. Đây là những minh chứng sống động cho thấy khát vọng phát triển đất nước, khi được chuyển hóa thành các chương trình hành động cụ thể, hoàn toàn có thể trở thành động lực gần gũi, thiết thực với đời sống thanh niên chứ không phải một khẩu hiệu trừu tượng.
Về mặt hạn chế:
Thực tế cho thấy một bộ phận thanh niên còn biểu hiện thờ ơ với các vấn đ�� chính trị và xã hội của đất nước, có xu hướng sống thực dụng, đề cao lợi ích cá nhân trước mắt hơn là trách nhiệm cộng đồng dài hạn. Đặc biệt trên môi trường mạng, một số người trẻ do thiếu bản lĩnh chính trị và kỹ năng thẩm định thông tin đã dễ dàng bị cuốn theo những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả phát triển của đất nước, hoặc tiếp nhận thụ động các quan điểm hoài nghi mà không có sự kiểm chứng cần thiết. Ngoài ra, tình trạng một bộ phận nhân lực trẻ chất lượng cao có xu hướng tìm kiếm cơ hội ở nước ngoài mà chưa gắn bó lâu dài với sự phát triển trong nước cũng là vấn đề cần được nhìn nhận thẳng thắn, không né tránh.
3.2. Phản biện quan điểm hoài nghi về tính thiết thực của khát vọng hùng cường, những rủi ro, cơ hội khi tuổi trẻ hành động kịp thời
Phản biện quan điểm hoài nghi về tính thiết thực của khát vọng hùng cường:
Một luận điểm khá phổ biến trong một bộ phận thanh niên là cho rằng các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, năm 2045 và năm 2130 là chuyện của tầm vĩ mô, của Nhà nước và doanh nghiệp lớn, không liên quan trực tiếp đến một sinh viên hay một người mới đi làm.
Xét luận điểm này về hình thức, có vẻ hợp lý vì khoảng cách giữa một chỉ tiêu tăng trưởng quốc gia với công việc thường nhật của một cá nhân là thực tế. Tuy nhiên, xét về bản chất, lập luận này bỏ qua một thực tế then chốt rằng: mọi chỉ tiêu phát triển vĩ mô, suy cho cùng, đều được tạo lập từ hệ thống các quyết định vi mô, như cách một sinh viên học tập, một kỹ sư trẻ lựa chọn nơi làm việc, một người khởi nghiệp quyết định đầu tư trong nước hay ra nước ngoài. Hay nói cách khác, khát vọng hùng cường không tồn tại như một thực thể tách rời đời sống thanh niên, mà chính là kết quả tổng hợp của hàng triệu lựa chọn cá nhân ấy. Việc đánh giá khát vọng phát triển đất nước là “chuyện của người khác” không phải là một cách nhìn trung lập, đứng ngoài cuộc. Đó tự nó đã là một lựa chọn thờ ơ, đứng ngoài dòng chảy chung và chính lựa chọn ấy, dù âm thầm, vẫn góp phần định hình kết quả chung, chỉ theo chiều hướng tiêu cực.
Những rủi ro nếu tuổi trẻ thờ ơ, thực dụng:
Nếu quan điểm thờ ơ nói trên trở thành xu hướng phổ biến trong một thế hệ, đất nước và chính họ sẽ phải đối diện với những rủi ro cụ thể. Trước hết là nguy cơ tụt hậu trong cuộc cạnh tranh khoa học và công nghệ toàn cầu, khi trí tuệ nhân tạo và tự động hóa đang tái cấu trúc thị trường lao động với tốc độ nhanh chưa từng có, một thế hệ trẻ thiếu chủ động học tập, thiếu bản lĩnh cạnh tranh sẽ khó có thể nắm giữ những vị trí việc làm có giá trị gia tăng cao, mà chỉ có thể đứng ở phân khúc thấp của chuỗi giá trị. Thứ hai, nước ta đang có lợi thế về dân số vàng, tức là số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ rất cao so với dân số. Tuy nhiên, lợi thế này không kéo dài mãi nếu tuổi trẻ không tranh thủ học tập, nâng cao kỹ năng ngay trong giai đoạn này, đất nước sẽ sớm bước sang giai đoạn dân số già trong khi kinh tế chưa kịp giàu lên tương xứng. Thứ ba, sự thờ ơ về nhận thức chính trị tạo ra cơ hội cho các luận điệu xuyên tạc, kích động dễ dàng lợi dụng để chia rẽ niềm tin xã hội, làm suy yếu sự đồng thuận vốn là nền tảng để huy động nguồn lực quốc gia cho các mục tiêu phát triển dài hạn. Do vậy, ba rủi ro này không tồn tại độc lập mà cộng hưởng lẫn nhau: một lực lượng lao động thiếu kỹ năng, thiếu bản lĩnh và thiếu niềm tin sẽ khiến đất nước khó vượt qua bẫy thu nhập trung bình, tình trạng mà nhiều nền kinh tế đang phát triển từng mắc kẹt trong hàng chục năm.
Cơ hội khi tuổi trẻ hành động kịp thời:
Thứ nhất, tuổi trẻ Việt Nam chủ động nắm bắt, cơ hội lịch sử đang mở ra là rất rộng mở. Đặc biệt giai đoạn hiện nay, nước vẫn đang ở trong giai đoạn dân số trẻ, nhân lực dồi dào so với nhiều quốc gia trong khu vực, đây là lợi thế cạnh tranh mà không phải quốc gia nào cũng có được ở cùng một thời điểm phát triển.
Thứ hai, chuyển đổi số quốc gia, sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu và xu hướng các tập đoàn công nghệ tìm kiếm nguồn nhân lực chất lượng cao tại khu vực Đông Nam Á đang tạo ra dư địa việc làm và khởi nghiệp mà một thế hệ trẻ được đào tạo bài bản, chủ động học hỏi hoàn toàn có thể tận dụng.
Thứ ba, vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao sau nhiều thập kỷ hội nhập cũng mở ra cơ hội để người trẻ tham gia vào các sân chơi học thuật, nghiên cứu và kinh doanh toàn cầu với tâm thế chủ động hơn so với các thế hệ trước.
4. Trách nhiệm và giải pháp của tuổi trẻ Việt Nam
Trách nhiệm của tuổi trẻ không nằm ở việc hô khẩu hiệu, mà ở việc chuyển hóa nhận thức thành hành động cụ thể, thiết thực trên ba nhóm giải pháp sau:
Thứ nhất, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị và năng lực nhận diện thông tin. Mỗi đoàn viên, thanh niên cần chủ động trang bị kiến thức nền tảng về lịch sử dân tộc, đường lối, chủ trương phát triển đất nước để có đủ bản lĩnh phân biệt thông tin chính thống với luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng. Tổ chức Đoàn, Hội cần đổi mới hình thức tuyên truyền, giáo dục lý tưởng cách mạng theo hướng gần gũi, sinh động, gắn với các vấn đề thời sự mà thanh niên quan tâm, thay vì các hình thức tuyên truyền một chiều, khô cứng.
Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu [7]. Thứ hai, chủ động học tập, đổi mới sáng tạo, làm chủ khoa học và công nghệ. Trước tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, sinh viên và thanh niên cần xác định học tập suốt đời là yêu cầu bắt buộc, không chỉ để có việc l��m mà để tham gia vào các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, góp phần trực tiếp vào mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các cơ sở giáo dục, tổ chức Đoàn cần tạo thêm không gian, nguồn lực để hỗ trợ sinh viên tiếp cận nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Thứ ba, hành động cụ thể, gắn bó với sự phát triển của cộng đồng và đất nước. Trách nhiệm của tuổi trẻ cần được thể hiện bằng những việc làm cụ thể, có thể đo đếm được: tham gia các chương trình tình nguyện, chuyển đổi số cộng đồng; lựa chọn khởi nghiệp, lập nghiệp gắn với nhu cầu phát triển trong nước; chủ động lan tỏa thông tin chính thống, phản bác các luận điệu sai trái trên không gian mạng bằng lập luận có căn cứ thay vì né tránh hoặc thờ ơ. Đây là những giải pháp có tính khả thi cao, có thể triển khai ngay ở cấp cá nhân, tập thể lớp, chi đoàn, mà không đòi hỏi nguồn lực lớn.
5. Kết luận
Khát vọng độc lập dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và khát vọng hùng cường mà Đảng ta xác định trong giai đoạn hiện nay không phải hai mục tiêu tách biệt, mà là một mạch nguồn tư tưởng xuyên suốt, chuyển từ nhiệm vụ giành và giữ độc lập chính trị sang nhiệm vụ khẳng định vị thế quốc gia trên các phương diện kinh tế, khoa học công nghệ và văn hóa. Quan điểm cho rằng khát vọng hùng cường chỉ là khẩu hiệu vĩ mô, xa rời đời sống thanh niên là một cách nhìn thiếu căn cứ, bởi mọi mục tiêu phát triển quốc gia đều được kiến tạo từ chính những lựa chọn hằng ngày của mỗi người trẻ. Nếu tuổi trẻ tiếp tục thờ ơ, thụ động, đất nước sẽ đối diện nguy cơ tụt hậu công nghệ, bỏ lỡ lợi thế dân số vàng và suy giảm sự đồng thuận xã hội; ngược lại, nếu chủ động nắm bắt, tuổi trẻ Việt Nam hoàn toàn có thể biến giai đoạn hiện nay thành một cửa sổ cơ hội lịch sử. Trách nhiệm của sinh viên, đoàn viên, thanh niên hôm nay, vì vậy, không chỉ là niềm tự hào về quá khứ hào hùng của dân tộc, mà còn là bổn phận cụ thể, hằng ngày, để khát vọng độc lập của cha ông tiếp tục được nối dài thành khát vọng hùng cường của thế hệ hôm nay.
Tài liệu tham khảo
1. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
2. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
5. Báo điện tử Chính phủ (2014), Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, https://baochinhphu.vn/toan-van-di-chuc-cua-chu-tich-ho-chi-minh-102169104.htm, truy cập ngày 28/8/2026.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
7. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.