1. Đặt vấn đề
Độc lập dân tộc là thành quả được đánh đổi bằng nhiều hy sinh. Tuy nhiên, theo tôi, độc lập không phải là điểm kết thúc. Người dân còn mong muốn được sống ấm no, được tôn trọng và có cơ hội phát triển. Vì vậy, để xây dựng một Việt Nam hùng cường, bên cạnh kinh tế và khoa học, đất nước cũng cần một bộ máy nhà nước thật sự biết phục vụ nhân dân.
Nền hành chính là nơi thường xuyên tiếp xúc và giải quyết công việc cho người dân. Một chính sách dù đúng nhưng thủ tục quá rườm rà hoặc cách phục vụ chưa tốt thì hiệu quả vẫn bị giảm. Do đó, một nền hành chính tinh gọn, minh bạch và thuận tiện có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển đất nước.
Là một sinh viên mới bước vào Học viện, ban đầu tôi nghĩ tinh thần phục vụ Nhân dân chủ yếu gắn với những người trực tiếp làm việc trong khu vực công. Tuy nhiên, tôi dần hiểu rằng kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp đều cần thời gian rèn luyện. Vì vậy, sinh viên phải chuẩn bị tinh thần phục vụ ngay từ quá trình học tập.
Từ đó, bài viết tập trung vào ba nội dung: truyền thống lấy dân làm gốc; thực tiễn của nền hành chính hiện nay; trách nhiệm của sinh viên trong tương lai. Bài viết khẳng định rằng sinh viên cần chuẩn bị từ sớm về đạo đức, chuyên môn và năng lực số để góp phần xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân.
2. Giá trị lịch sử và tư tưởng của nền hành chính phục vụ nhân dân
2.1. Truyền thống lấy dân làm gốc trong lịch sử dân tộc
Trong lịch sử Việt Nam, nhân dân luôn là lực lượng trực tiếp lao động, sáng tạo, bảo vệ và kiến thiết đất nước. Sự trường tồn của quốc gia không chỉ dựa vào thành lũy, quân đội hay nguồn lực vật chất, mà trước hết dựa vào lòng dân và sức dân. Bởi vậy, tư tưởng trọng dân, gần dân và chăm lo cho dân đã sớm trở thành một bài học lớn về trị quốc. Khi trả lời vua Trần Anh Tông về kế sách giữ nước, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đã nêu: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy” [1].
“Khoan thư sức dân” không chỉ là giảm một gánh nặng trước mắt, mà còn là biết chăm lo và tạo điều kiện để nhân dân ổn định cuộc sống. Hình ảnh “sâu rễ bền gốc” cho thấy khi lòng dân vững thì đất nước mới có thể phát triển lâu dài.
Đối với sinh viên Học viện Hành chính và Quản trị công, bài học này góp phần hình thành nhận thức đúng về trách nhiệm nghề nghiệp, đặc biệt đối với những người sau này làm việc trong khu vực công. Cán bộ không phải là người ban phát quyền lợi, mà là người thực hiện trách nhiệm do Nhà nước và nhân dân giao phó.
2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước phục vụ nhân dân
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, yêu cầu xây dựng một chính quyền thực sự thuộc về nhân dân được đặt ra hết sức cấp thiết. Trong bài viết “Chính phủ là công bộc của dân” đăng trên Báo Cứu quốc ngày 19/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính phủ là công bộc của dân”; đồng thời nêu rõ: “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh” [2]. Cách diễn đạt ngắn gọn nhưng thể hiện rõ bản chất của một chính quyền mới: mọi hoạt động của bộ máy nhà nước phải hướng đến tự do, hạnh phúc và quyền lợi chính đáng của nhân dân.
Tư tưởng “công bộc của dân” đặt ra cả yêu cầu về đạo đức và năng lực. Cán bộ phải hiểu thẩm quyền được trao để giải quyết công việc chung. Bên cạnh đó, họ cần có chuyên môn, sự liêm chính và thái độ gần gũi, tránh quan liêu hoặc thờ ơ với người dân.
Tinh thần đó được tiếp tục thể hiện trong nguyên tắc hiến định về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân [3]. Đây là cơ sở để xác định phục vụ nhân dân không chỉ là phẩm chất được khuyến khích, mà còn gắn với bản chất, mục tiêu và trách nhiệm của bộ máy nhà nước. Mỗi cơ quan, mỗi cán bộ, công chức đều phải đặt kết quả phục vụ và quyền lợi hợp pháp của người dân trong quá trình thực thi nhiệm vụ.
Như vậy, từ “khoan thư sức dân” đến tư tưởng Chính phủ là công bộc của dân đều thể hiện một điều: nhân dân là nền tảng của quốc gia. Sinh viên cần tiếp nối giá trị đó trong học tập và định hướng nghề nghiệp.
3. Thực tiễn xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân hiện nay
3.1. Những chuyển biến tích cực trong cải cách hành chính và chuyển đổi số
Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân đã được cụ thể hóa bằng nhiều chương trình, chính sách và giải pháp. Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 xác định cải cách đồng bộ trên các nội dung như thể chế, thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, chế độ công vụ, tài chính công và xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Cách tiếp cận này cho thấy cải cách hành chính không chỉ là cắt giảm một số giấy tờ, mà là quá trình đổi mới toàn diện từ thể chế, con người đến phương thức vận hành [4].
Chuyển đổi số đang tạo ra thay đổi rõ rệt trong quan hệ giữa cơ quan hành chính với người dân. Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số đặt mục tiêu sử dụng dữ liệu và công nghệ số để cung cấp dịch vụ chất lượng hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp hiệu quả hơn [5]. Năm 2026, Quy chế quản lý, vận hành, khai thác Cổng Dịch vụ công quốc gia tiếp tục nhấn mạnh nguyên tắc lấy người dùng làm trung tâm, bảo đảm khả năng tiếp cận của các nhóm người dùng khác nhau [6]. Điều này phản ánh sự chuyển dịch từ tư duy quản lý dựa nhiều vào hồ sơ, quy trình nội bộ sang tư duy tổ chức dịch vụ xoay quanh nhu cầu và trải nghiệm của người dân.
Chương trình Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035 tiếp tục mở rộng việc sử dụng dữ liệu và định danh điện tử trong giải quyết thủ tục, cung cấp tiện ích số và phục vụ chuyển đổi số quốc gia [7]. Khi dữ liệu được kết nối và tái sử dụng hợp lý, người dân có thể giảm việc khai báo lặp lại; cơ quan nhà nước có thêm điều kiện xử lý công việc nhanh và chính xác hơn. Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra sự thuận tiện, an toàn và công bằng trong tiếp cận dịch vụ công.
Cùng với đổi mới công nghệ, yêu cầu về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cũng ngày càng được đề cao. Luật Cán bộ, công chức năm 2025 tạo cơ sở pháp lý mới cho quản lý, sử dụng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức [8]. Điều đó đặt ra yêu cầu kết hợp giữa năng lực chuyên môn, trách nhi���m thực thi công vụ, đạo đức, kỷ luật và khả năng thích ứng với môi trường số. Một nền hành chính hiện đại không thể chỉ có hệ thống kỹ thuật hiện đại; yếu tố quyết định vẫn là con người vận hành hệ thống và cách họ ứng xử với nhân dân.
Đối với sinh viên, lòng yêu nước không chỉ nằm ở cảm xúc mà cần được thể hiện bằng tri thức, năng lực hành động và ý thức làm chủ tương lai. Đối với sinh viên Học viện Hành chính và Quản trị công, trước hết cần học để hiểu pháp luật, nâng cao năng lực giải quyết công việc và hình thành thái độ trách nhiệm đối với người dân, cộng đồng và xã hội.
3.2. Những vấn đề tiếp tục đặt ra đối với nền hành chính phục vụ
Những kết quả cải cách đã tạo ra thay đổi tích cực. Theo Bộ Nội vụ, Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2025 đạt 83,09%, giảm 0,78 điểm phần trăm so với năm 2024; chênh lệch giữa địa phương cao nhất và thấp nhất là 13,20 điểm phần trăm [9]. Những con số này cho thấy chất lượng phục vụ nhìn chung được người dân ghi nhận, nhưng kết quả chưa đồng đều và vẫn còn nhiều việc phải cải thiện. Xây dựng nền hành chính phục vụ là quá trình lâu dài. Một thủ tục thường liên quan đến nhiều cơ quan và dữ liệu, nên chỉ một khâu thiếu phối hợp cũng có thể làm người dân gặp khó khăn. Vì vậy, đưa thủ tục lên mạng thôi là chưa đủ, mà còn cần đơn giản hóa quy trình và hỗ trợ người chưa quen công nghệ.
Trước hết, cải cách cần đi vào thực chất. Nếu làm thủ tục trực tuyến mà người dân vẫn phải khai lại những thông tin cơ quan nhà nước đã có, sự rườm rà chỉ chuyển từ giấy lên màn hình. Vì vậy, một cải tiến nên được nhìn từ trải nghiệm thật của người sử dụng: thủ tục có dễ hiểu không, thời gian có ngắn hơn không và kết quả có được trả đúng hẹn không. Việc đo lường sự hài lòng của người dân đối với cơ quan hành chính cũng là một căn cứ để tiếp tục điều chỉnh chất lượng phục vụ.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số phải bảo đảm mọi người đều có thể tiếp cận. Người cao tuổi, người khuyết tật hoặc người ít sử dụng công nghệ vẫn cần được hướng dẫn trực tiếp. Nếu công nghệ trở thành một rào cản mới thì mục tiêu phục vụ người dân vẫn chưa đạt được.
Chất lượng phục vụ còn phụ thuộc vào cách ứng xử của cán bộ. Một lời hướng dẫn rõ ràng và tôn trọng sẽ đem lại cảm nhận khác hẳn cách trả lời máy móc. Ngược lại, việc né tránh hoặc đùn đẩy có thể làm giảm niềm tin của người dân.
Ngoài ra, nền hành chính tương lai còn phải đối mặt với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân. Công nghệ giúp xử lý công việc nhanh hơn, nhưng người sử dụng vẫn phải biết kiểm tra và chịu trách nhiệm về quyết định cuối cùng.
Từ đó có thể thấy cải cách hành chính cần một đội ngũ có năng lực, hiểu tinh thần phục vụ và sẵn sàng học hỏi. Việc chuẩn bị đội ngũ ấy cần bắt đầu từ nhà trường.
4. Trách nhiệm và giải pháp đối với sinh viên Học viện Hành chính và Quản trị công
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao [10]. Cùng với các mục tiêu đó là nhiều chương trình, đề án quy mô quốc gia về chuyển đổi số, phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách hành chính và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thành công của các chương trình không chỉ phụ thuộc vào nguồn vốn hay công nghệ, mà còn phụ thuộc vào năng lực tổ chức thực hiện của bộ máy nhà nước.
Một nền hành chính tốt không thể hình thành trong ngày một ngày hai. Đây là quá trình lâu dài và có sự tiếp nối giữa các thế hệ. Vì vậy, sinh viên cần bắt đầu chuẩn bị ngay từ hôm nay thông qua ba nhóm trách nhiệm sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vai trò của nhân dân và hình thành tinh thần phụng sự.
Theo tôi, sinh viên trước hết phải hiểu rằng người dân không đến cơ quan nhà nước để “xin “ giải quyết công việc. Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Vì vậy, học pháp luật không chỉ để nhớ điều khoản mà còn để hiểu và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân.
Bên cạnh đó, tinh thần phục vụ có thể bắt đầu từ những việc nhỏ như tôn trọng người khác, giữ lời hứa và chịu trách nhiệm với công việc được giao. Sinh viên cần tránh việc chỉ nói về cống hiến bằng khẩu hiệu nhưng thiếu hành động thực tế.
Thứ hai, tích lũy kiến thức chuyên môn, đạo đức công vụ và năng lực số.
Sinh viên cần học vững kiến thức về pháp luật, hành chính học, quản trị công và kỹ năng soạn thảo. Ngoài việc học trên lớp, sinh viên nên tập đọc văn bản gốc, kiểm tra hiệu lực và theo dõi những chương trình cải cách đang được triển khai.
Đạo đức công vụ phải được rèn cùng với chuyên môn. Sinh viên có thể bắt đầu bằng sự trung thực trong học tập, trích dẫn đúng nguồn, hoàn thành nhiệm vụ đúng hạn và dám nhận trách nhiệm khi mắc sai sót.
Trong bối cảnh Chính phủ số, năng lực số trở thành yêu cầu thiết yếu. Sinh viên cần biết sử dụng hệ thống thông tin, khai thác dữ liệu, bảo vệ thông tin cá nhân, giao tiếp trên môi trường số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm. Điều quan trọng không chỉ là sử dụng công cụ nhanh, mà phải biết kiểm chứng kết quả, nhận diện sai lệch và giữ vai trò quyết định của con người đối với những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của công dân. Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia càng làm rõ yêu cầu phát triển nguồn nhân lực có khả năng làm chủ công nghệ [11].
Thứ ba, chuyển nhận thức và kiến thức thành hành động thực tiễn.
Sinh viên có thể bắt đầu từ những việc vừa sức như nghiên cứu khoa học, mô phỏng một thủ tục hoặc thực hiện dự án nhỏ hỗ trợ cộng đồng. Một tờ hướng dẫn dễ hiểu hay một khảo sát về dịch vụ công cũng giúp sinh viên học cách phát hiện vấn đề và lắng nghe người dân.
Bên cạnh đó, hoạt động Đoàn, Hội và câu lạc bộ là môi trường phù hợp để rèn tinh thần phục vụ. Sinh viên có thể hỗ trợ kỹ năng số, phổ biến kiến thức pháp luật hoặc tham gia hoạt động tình nguyện gắn với chuyên môn. Qua đó, sinh viên hiểu rằng mỗi thủ tục đều liên quan đến một hoàn cảnh cụ thể của người dân.
Về phía Học viện, cần tăng th��m tình huống thực hành về cải cách hành chính, dịch vụ công số và cách giao tiếp với người dân. Đồng thời, Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên và Câu lạc bộ Lý luận trẻ có thể tổ chức tọa đàm, cuộc thi sáng kiến hoặc chương trình tình nguyện gắn với ngành học.
5. Kết luận
Khát vọng hùng cường không chỉ được đo bằng quy mô kinh tế hay tốc độ phát triển công nghệ, mà còn được thể hiện qua năng lực của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và chất lượng phục vụ nhân dân.
Một nền hành chính hiệu quả không thể hình thành trong thời gian ngắn. Vì vậy, sinh viên có thể bắt đầu từ những việc gần gũi như học nghiêm túc, rèn cách ứng xử, biết chịu trách nhiệm và sử dụng công nghệ đúng cách. Với bản thân tôi, tinh thần phục vụ nhân dân không còn là điều quá xa vời mà bắt đầu từ cách mình học tập mỗi ngày.
Khát vọng Việt Nam hùng cường cần nhiều chương trình lớn. Tuy nhiên, nền tảng lâu dài vẫn là một Nhà nước biết lắng nghe và hành động vì dân. Sự chuẩn bị của sinh viên hôm nay sẽ góp phần hình thành nguồn nhân lực có chất lượng, qua đó đóng góp vào một nền hành chính chuyên nghiệp, liêm chính và phục vụ Nhân dân trong tương lai.
Tài liệu tham khảo
1. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (2010), Giá trị tích cực của quan điểm thân dân và “khoan thư sức dân” thời Lý - Trần”, Cổng thông tin Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, http://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3096/6925/gia-tri-tich-cuc-cua-quan-djiem-than-dan-va-khoan-thu-suc-dan-thoi-ly-tran.html, truy cập ngày 01/09/2026.
2. Hồ Chí Minh (1945), Chính phủ là công bộc của dân, Báo Cứu quốc, số 46, ngày 19/9/1945; dẫn theo Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, tập 3, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 28/11/2013, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025.
4. Chính phủ (2021), Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030.
5. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030.
6. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 29/2026/QĐ-TTg ngày 4/6/2026 ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác Cổng Dịch vụ công quốc gia.
7. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 826/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 phê duyệt Chương trình Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2035.
8. Quốc hội (2025), Luật Cán bộ, công chức năm 2025.
9. Bộ Nội vụ (2026), Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025 (SIPAS 2025).
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
11. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.